Cảo thơm lần giở: La Rochefoucauld nghĩ gì?
Thất vọng về chính trị, ông tìm danh vọng trong văn chương và nổi tiếng về tập Cách ngôn (Maximes, 1655). Triết lý của ông bi quan và yếm thế, chịu ảnh hưởng của giáo phái Janséniste. Ông nhìn con người đầy thiếu sót, ông không tin cái tốt của con người, cho tính ích kỷ và ích cá nhân chủ nghĩa là động cơ toàn bộ hành động của con người.
Công tước La Rochefoucauld (thế kỷ 17).
Sau đây là một số suy nghĩ của Rochefoucauld:
Nhiều khi chúng ta sẽ xấu hổ về những hành động tốt đẹp nhất của chúng ta nếu người ta thấy rõ những động cơ của chúng.
Trong những cơn khốn đốn của bạn bè thân nhất, ta thấy có điều gì đó không phải là không ham thích.
Tự ái là tên nịnh nọt giỏi nhất.
Những người chỉ coi ngó đến những việc nhỏ nhặt thường sẽ không làm được việc lớn.
Trong mọi thế cuộc, ta nhận thấy một thời điểm mà căn số rẽ ngang, dẫn đến hoặc là một tai họa hoặc sự thành công.
Sự đứng đắn của phụ nữ nhiều khi chỉ vì họ khẩn thiết giữ danh giá và để tránh sự phiền toái.
Sự chối từ lời khen chẳng qua chỉ là muốn được khen hai lần.
Có những cuộc hôn nhân tốt, nhưng không có cuộc nào tuyệt trần.
Những đầu óc kém cỏi thường phê phán những gì quá tầm của mình.
Làm sao ta có thể trách kẻ khác không giữ được chuyện bí hiểm của ta trong khi chính bản thân ta cũng không giữ được.
Sự thú cao độ về bản thân mình khiến ta e dè là không để cái thú đó cho người nghe ta.
Sự báo thù bao giờ cũng xuất hành từ sự yếu đuối của một tâm hồn không có khả năng ưng ý những lời xỉ vả.
Đức hạnh sẽ không đi xa được nếu không có sự khoe khoang đồng hành.
Người ta thích tự nói điều xấu về mình còn hơn là chẳng nói gì cả.
Người ta nói ít trừ khi muốn khoe.
Người ta chê trách thiếu sót và ca ngợi đạo đức chẳng qua chỉ vì lợi quyền.
quyền lợi là hồn của tự ái, cũng như thân thể mà mất hồn thì không còn sống được nữa, không còn thính giác nữa, không còn kiến thức nữa, không còn tình cảm nữa và không còn cử động được nữa. Cũng như vậy, tự ái mà mất quyền lợi thì không còn nghe thấy, không còn cảm thấy và không động đậy được nữa.
Lợi quyền nói đủ các thứ ngôn ngữ và đóng vai đủ các nhân vật.
Người ta phê phán cái xấu và khen ngợi cái tốt chỉ vì lên đường từ quyền lợi.
*
* *
Phụ lục
Con người sinh ra tốt hay xấu?
Nhân nói đến La Rochefoucauld, xin bàn rộng ra một vấn đề xưa nay các Triết gia, các nhà tâm lý học, các nhà văn thường bàn tới: “Con người ta sinh ra tốt hay xấu?”.
Thực dân Pháp bỏ thi chữ Nho vào năm 1918. Nhưng vào đầu những năm 1920, những gia đình tí chút nề nếp ở Hà thành vẫn cho con khai tâm “bằng chữ Nho”, chữ của thánh hiền. Và cho nên, năm tôi 6-7 tuổi, bố tôi cho tôi đi học một thầy đồ dạy trên một căn gác ọp ẹp ở phố Hàng Quạt, Hà Nội. Đúng là “thầy đồ thầy đạc”..., dăm quyển sách rách nát, vài thằng nhãi con và một cái roi mây”. Chưa được một năm, theo phong trào học chữ Tây, bố tôi cho tôi đi học chữ Quốc ngữ. Thế là vốn chữ Nho của tôi chỉ còn chờn vờn mấy câu “Nhân chi sơ, tính bản thiện...” mà đôi lúc vừa ê a đọc vừa ngủ gật, khiến anh chị tôi giễu: “Nhân chi sơ, sờ vú mẹ”, “Tính bản thiện, miệng muốn ăn... quà”.
Khốn nạn, ở cái tuổi đánh bi đánh đáo, hiểu làm sao được “Nhân chi sơ, tính bản thiện” (Khi mới sinh ra, con người ta tính vốn lành?). Một luận đề triết học - tâm lý học mà đến nay, bạc đầu tôi vẫn còn đang tìm hiểu.
Thời Xuân Thu, nhiều học thuyết nở rộ ở Trung Quốc. Mạnh Tử (thế kỷ 3 tr.CN) bênh vực Khổng học bằng thuyết Nhân chi sơ. Ông cho là “dân vi quý”, đề ra “Vương đạo” (gần như Platon trong tác phẩm Republica: người trị dân phải vì dân và là người hiền cai trị bằng đạo đức, dân có quyền lật đổ bạo chúa). Có thể cai trị bằng đạo đức vì người ta sinh ra đều tốt. Ai cũng có bản năng tốt, tuổi thư từ đã biết tình thương, khiêm nhường. Trị dân là làm nở mầm mống thiện có sẵn trong con người. Quan hệ giữa các cá nhân và giữa vua chúa và dân phải dựa vào nhân nghĩa. Mạnh Tử chống thuyết Kiêm ái của Mặc Tử - đòi hỏi bình đẳng hoàn toàn và cho là thực hành đạo đức thì có lợi hơn (còn Mạnh Tử cho thực hành đạo đức là trình bày thực chất con người chứ không phải vụ lợi).
Dưới một giác độ khác, đạo Phật cho là sinh vật nào dịch thuật hậu giang midtrans cũng có Phật tính (không nói là thiện tính), nên cấm sát sinh, ai tu luyện cũng thành Phật được. Trong đạo Kitô, tu sĩ người Ailen là Pelagius (thế kỷ 5) cho là không có tội tổ tiên và Ân chúa.
Thuyết con người sinh ra ác chứ không thiện cũng có nhiều luận điểm và tương phản. Đạo Kitô cho là tội tổ sư (Ađam và Êva trái lời Thượng đế, nên con người sinh ra suốt đời ân hận). Có giáo phái Kitô còn quan niệm là nếu ai không có Ân chúa thì làm điều thiện suốt đời cũng không được lên Thiên đường. Riêng giáo phái Quaker cho là sinh ra ai cũng có Thánh Thần (Holy Spirit), y như có Phật tính; vì vậy tín đồ chống bất cứ cuộc chiến tranh nào, vì giết một người là giết thần.
Triết gia Tuân Tử (thế kỷ 3 tr.CN) quan niệm con người sinh ra ác, ngược với Mạnh Tử. Bản năng con người là dục vọng sinh vật, do đó sinh ra cướp bóc... bởi thế, cần có lễ nghĩa, hình phạt để ngăn ngừa cái xấu có sẵn trong người. Tuân Tử mở đường cho phái Pháp gia của Hàn Phi Tử. Theo Hàn Phi Tử, trước kia người nguyên thủy tốt, không phải do bẩm sinh (thuyết Mạnh Tử) mà do người ít, sau người đông, của nả ít bởi vậy chém giết nhau, phải dùng pháp luật ngăn chặn tính vụ lợi cố hữu.
Chủ nghĩa vụ lợi có nhiều đại diện ở phương Tây, lên đường từ tính vị kỷ của con người. Triết gia La Rochefoucauld (thế kỷ 17) cho đạo đức là điêu trá, để che chắn ích lợi riêng của từng người. Triết gia Đức Schopenhauer (thế kỷ 19), chịu ảnh hưởng đạo Phật, quan niệm bản tính con người là ham sống, do đó dục vọng và đau khổ nên cần diệt dục để đánh tháo. Nhà bút pháp Sade (thế kỷ 18) viết tiểu thuyết ác dâm (Sadisme) tụng ca cái độc ác được coi là bản chất con người.
Vậy thì kết luận “Nhân chi sơ” thiện hay ác? Chẳng cần có óc vĩ đại của các Triết gia, con người thông thường ai cũng có thể thấy trẻ mỏ từ khi sinh ra, lớn lên đều có cái tốt cái xấu bẩm sinh, nhiều ít tùy cá tính, thay đổi nhiều ít tùy giáo dục. Freud với môn phân tâm học có thể giải thích một cách khoa học bằng nghiên cứu vô thức (vô thức hoạt động nhằm thỏa mãn đề nghị của bản năng). Thiện ác là do hoạt động của hai xung năng. Trong vô thức: xung năng sống và xung năng chết, tức là hung tính dẫn đến hành vi đả phá kẻ khác và tự hủy.
Về sự phát triển của nhân loại qua năm nghìn năm văn minh, GS. D. Julia nhận định về thời đương đại như sau: tiến bộ vật chất nhảy vọt do khoa học kỹ thuật phát triển. Về sự tiến bộ của thực chất con người, phải xét về hai mặt: 1) cá nhân thì không có và sẽ không bao giờ có tiến bộ, vì ai sau khi sinh ra cũng lại phải học cách kiềm chế dục vọng và theo lý trí. Do đó sẽ vẫn có kẻ thiện người ác khác nhau, do bản năng khác nhau. 2) Về mặt lịch sử, có sự rứa của các dân tộc nhích lại gần nhau, cụ giải quyết hòa bình các tranh chấp.
cố gắng thôi! Vì sau Thế chiến 2, hòa bình thế giới hoàn hảo vẫn chỉ còn là giấc mơ với chiến tranh lạnh, cạnh tranh kinh tế ác liệt dẫn đến phá hủy môi trường, phong trào khủng bố, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Có lẽ còn loài người thì còn có thiện ác và cổng chùa Việt Nam vẫn cần có ông Thiện ông Ác.
Nhà văn hóa Hữu Ngọc
Nhận xét
Đăng nhận xét